LỊCH SỬ 12 - CHƯƠNG IV: MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945-2000)
LỊCH SỬ 12 - CHƯƠNG IV: MĨ, TÂY ÂU, NHẬT BẢN (1945-2000)
BÀI 6: NƯỚC MĨ
I. NƯỚC MĨ
1. Kinh tế
- Sau CTTGT2, nền kinh tế Mĩ phát triển mạnh mẽ:
+ Công nghiệp: chiếm hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn TG (năm 1948 hơn 56%)
+ Nông nghiệp: bằng 2 lần tổng sản lượng của Anh, Pháp, CHLB Đức, Italia và Nhật Bản
+ Giao thông vận tải: hơn 50% tàu bè đi lại trên mặt biển
+ Tài chính: gần 40% tổng sản phẩm kinh tế TG ( ¾ dự trữ vàng của TG)
- Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất Thế Giới
- Các yếu tố (5 yếu tố) :
+ Lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo
+ Lợi dụng chiến tranh è buôn bán vũ khí, phương tiện chiến tranh
+ Áp dụng những thành tựu KH-KT hiện đại để nâng cap năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất
+ Các tổ hợp công nghiệp – quân sự, các công ti, các tập đoàn có sức sản xuất, cạnh tranh cả trong và ngoài nước có hiệu quả
+ Các chính sách, biện pháp điều tiết đóng vai trò quan trọng è thúc đẩy kinh tế phát triển
2. KH – KT
- Mĩ là nước khởi đầu cách mạng KH – KT ( lần II ) è đạt nhiều thành tựu to lớn
+ Công cụ sản xuất mới: máy tính điện tử, máy tự động
+ Vật liệu mới: polime, vật liệu tổng hợp
+ Năng lượng mới: năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch
+ Chinh phục vũ trụ: đưa người lên Mặt Trăng vào năm 1969
+ Đi đầu cuộc “ Cách Mạng Xanh “ trong nông nghiệp
3. Đối ngoại
- Theo đuổi chiến lược toàn cầu è tham vọng làm bá chủ TG
- Mục tiêu:
+ Ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ CNXH trên TG
+ Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế,…
+ Khống chế, chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ
II. NƯỚC MĨ TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1991
1. Kinh tế:
- Năm 1973 – 1982: khủng hoảng năng lượng TG è suy thoái
- Năm 1983 – nay : kinh tế phục hồi và phát triển trở lại
2. Đối ngoại: có sự thay đổi
- Tháng 12.1989. Mĩ mở rộng quan hệ với Liên Xô, tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh
- Tiếp tục triển khai “ chiến lược toàn cầu “
III. NƯỚC MĨ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
1. Kinh tế: tuy trải qua những đợt suy thoái ngắn trong suốt thập kỉ 90, nhưng kinh tế vẫn đứng đầu TG
2. Đối ngoại
- Trong thập kỉ 90, theo đuổi chiến lược toàn cầu “ Cam kết và mở rộng “ với 3 mục tiêu
+ Bảo đảm an ninh với lực lượng quân sự mạnh, sẵn sàng chiến đấu
+ Tăng cường khôi phục, phát triển tính năng động và sức mạnh của nền kinh tế Mĩ
+ Sử dụng khẩu hiệu “ Thúc đẩy dân chủ “ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác
- Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc (1989) Mĩ muốn thiết lập trật tự TG mới “đơn cực”
- Ngày 11.9.2001, Mĩ bị khủng bố
- Ngày 11.7.1995, Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Comments
Post a Comment