PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN (Phần 1)
Phân tích phần 1 Tây tiến của
Quang Dũng - Mẫu 2
Quang Dũng ( 1921-1988) là một nghệ
sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. "Tây
Tiến" là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ và thể hiện sâu sắc phong cách thơ
Quang Dũng. Có thể nói, tinh hoa của bài thơ được hội tụ lại trong khổ thơ đầu
tiên. Khổ thơ đã dựng lên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ của núi rừng
miền Tây, nơi nhà thơ cũng đoàn quân Tây Tiến đã từng hoạt động, chiến đấu.
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây,súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Bài thơ "Tây Tiến"
được sáng tác năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh, khi nhà thơ đã rời khỏi đơn vị
cũ Tây Tiến, chuyển sang hoạt động tại một đơn vị khác. Tây Tiến là một đơn vị
bộ đội chống Pháp được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào
bảo vệ biên giới Việt Lào, tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây
Bắc Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến rất rộng lớn trải dài từ
Sơn la, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa đến Sầm Nưa ( Lào) - là những nơi hiểm
trở, hoang vu, rừng thiêng nước độc. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên
Hà Nội, có nhiều học sinh, sinh viên, trong đó có Quang Dũng. Họ sống và chiến
đấu trong hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành nhưng vẫn lạc
quan, anh dũng. Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến trở về Hòa Bình
thành lập Trung đoàn 52.
Bài thơ ra đời từ nỗi nhớ, kỉ
niệm, hồi ức của Quang Dũng về đồng đội và địa bàn chiến đấu cũ. Tác phẩm sau
khi ra đời đã được bao thế hệ thanh niên và bạn yêu thơ truyền tay tìm đọc. Đến
năm 1986, bài thơ được in trong tập thơ " Mây đầu ô" ( xuất bản
1986). Ban đầu bài thơ có tên là " Nhớ Tây Tiến", sau đó tác giả
chuyển lại thành " Tây Tiến". Nhan đề " Tây Tiến" đảm bảo
tính hàm súc của thơ, không cần phải trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ mà tình cảm ấy
vẫn hiện lên sâu sắc, thấm thía. Nhan đề còn làm nổi rõ hình tượng trung tâm
của tác phẩm, đó là hình tượng đoàn quân Tây Tiến. Việc bỏ đi từ
"nhớ" đã vĩnh viễn hóa đoàn quân Tây Tiến, khiến cho hình ảnh người
lính Tây Tiến trở thành bất tử trong thơ ca kháng chiến Việt Nam.
"Tây Tiến" là bài
thơ in đậm phong cách tài hoa, lãng mạn, phóng khoáng của hồn thơ Quang Dũng.
Tác phẩm đã bộc lộ nỗi nhớ sâu sắc của nhà thơ với người lính Tây Tiến mang vẻ
đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng. Đoạn thơ thứ nhất đã tái dựng lại sống động
bức tranh thiên nhiên miền Tây với những khung cảnh, những chặng đường hành
quân gian khổ, từ đó hình ảnh những chiến sĩ Tây Tiến cũng lần lượt hiên ra.
Bài thơ mở ra bằng một nỗi
nhớ trào dâng:
Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Tiếng gọi "Tây Tiến
ơi" bật lên bởi một nỗi nhớ sâu sắc, cồn cào không kìm nén nổi. Đối tượng
của nỗi nhớ ấy rất cụ thể, rõ ràng là : "sông Mã", "Tây
Tiến", "rừng núi". Nỗi nhớ ấy phải khắc khoải lắm thì tác giả mới
điệp lại hai lần từ " nhớ". " Nhớ chơi vơi" là nỗi nhớ chập
chờn hư thực, vừa tha thiết, thường trực, vừa mênh mang, đầy ám ảnh, vừa mở ra
không gian của tiềm thức, vừa như gợi ra không gian trập trùng của núi đèo rộng
lớn. Cách hiệp vần "ơi" làm câu thơ như ngân vang, phù hợp với biên
độ của cảm xúc.
Hai câu thơ đầu đã khơi mạch
chủ đạo của cả bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ ấy được cụ thể dần dần
trong những vần thơ tiếp sau.
Hai câu thơ tiếp gợi lại hình
ảnh đoàn quân hành quân trong đêm:
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi"
Hai câu thơ vừa tả thực, vừa
sử dụng bút pháp lãng mạn.Những từ chỉ địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi ra địa
bàn rộng lớn, đầy lạ lẫm đối với người lính Tây Tiến. Sương mù vùng cao dày đặc
như trùm lấp bước chân, nuốt chửng cả đoàn binh vốn đang mỏi mệt, rệu rã vì
chặng đường dài gian khổ. Quang Dũng đã nhìn thấy và miêu tả một mảng hiện thực
khuất lấp trong thơ ca kháng chiến. Nhưng những người lính ấy, dù mệt mỏi mà
tâm hồn vẫn trẻ trung, hào hoa, lạc quan, yêu đời. Hình ảnh " hoa về trong
đêm hơi" là hình ảnh đẹp giàu sức gợi. Đó có thể là những ánh đuốc sáng
lung linh của đoàn quân đang tiến về bản làng, cũng có thể là hình ảnh đoàn
quân từ rừng đi ra, trên tay vẫn cầm theo những đóa hoa rừng ngát hương, mà đó
cũng có thể là hình ảnh ẩn dụ về đoàn quân Tây Tiến như những bông hoa rừng.
Đoàn quân ấy hành quân trong một " đêm hơi" đầy huyền ảo, mơ hồ, bảng
lảng khói sương chốn rừng suối. Hai câu thơ in đậm dấu ấn tài hoa, lãng mạn của
Quang Dũng.
Bốn câu thơ tiếp theo đặc tả
địa hình hiểm trở của miền Tây:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời,
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Nhà thơ sử dụng một loạt các
từ láy tượng hình "khúc khuỷu", " thăm thẳm", " heo
hút", kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 như chặt đôi câu thơ, mật độ thanh
trắc dày đặc khiến câu thơ trúc trắc gợi sự vất vả, nhọc nhằn. Những phép tu từ
đó mở ra trong tâm tưởng người đọc ấn tượng về sự gập ghềnh, hiểm trở, ẩn chứa
bao bất trắc, nguy hiểm của núi cao, vực sâu nơi núi rừng miền Tây. Hình ảnh
" súng ngửi trời" là một nhân hóa táo bạo, đặc tả sự chót vót của dốc
núi. Người lính Tây Tiến leo lên đỉnh dốc, cảm tưởng như mũi súng có thể chạm
mây. Từ đó, ta cũng thấy được nét tinh nghịch khỏe khoắn, vẫn có thể trêu đùa vô
tư sau một chặng đường hành quân vất vả, mệt nhọc của các anh lính Tây Tiến.
Phép đối " ngàn thước lên cao - ngàn thước xuống" càng nhấn mạnh độ
gập ghềnh, hình sông thế núi trập trùng, hiểm trở của thiên nhiên miền Tây. Ba
câu thơ giàu chất hội họa, dựng lên bức tranh hoang vu, dốc đèo đứt nối, hùng
vĩ trên con đường hành quân của chiến sĩ Tây Tiến. Câu thơ thứ tư toàn bộ là
bảy thanh bằng " Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi", vần mở "ơi"
đặt cuối câu tạo cảm giác nhẹ nhàng gợi ra những phút giây nghỉ ngơi thư giãn
của người lính. Họ đứng trên những đỉnh núi, thưởng thức chút bình yên, vẻ đẹp
lãng mạn của núi rừng, phóng tầm mắt, thấy mưa rừng giăng mờ nơi bản làng Pha
Luông xa xôi. Bốn câu thơ vừa gợi ra sự dữ dội hoang vu, sự êm đềm của núi
rừng, vừa gợi ra những cuộc hành quân vất vả nhọc mệt nhưng đầy trẻ trung, yêu
đời của các chàng trai Tây Tiến.
Người lính Tây Tiến không chỉ
đối diện với dốc cao vực sâu mà còn phải chịu những mất mát hi sinh:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời.
Cách nói tránh về cái chết
"không bước nữa", "bỏ quên đời" gợi tư thế ngạo nghễ của
người lính Tây Tiến. Họ chủ động chấp nhận cái chết, coi nó chỉ đơn giản như
một giấc ngủ mà thôi. Tư thế hi sinh " gục lên súng mũ" đầy xót xa
nhưng cũng thật hào hùng. Hình ảnh về người lính anh dũng hi sinh ấy sau này ta
còn bắt gặp trong "Dáng đứng Việt Nam" : " Và anh chết trong khi
đang đứng bắn- Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng". Câu thơ đã tiếp tục
cảm hứng bi tráng khi xây dựng chân dung người lính Tây Tiến. Và người lính Tây
Tiến tiếp tục chịu sự thử thách của núi rừng miền Tây:
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người".
Các từ láy chỉ biên độ lặp
lại thường xuyên của thời gian" chiều chiều", "đêm đêm" kết
hợp với biện pháp nhân hóa " thác gầm thét", " cọp trêu
người" đã nhấn mạnh vẻ bí hiểm, dữ dội,hoang dã chứa đầy nguy hiểm, cái
chết luôn luôn rình rập đe dọa người lính của núi rừng miền Tây. Sự nguy hiểm
ấy không chỉ trải rộng trong không gian mà còn kéo dài và lặp lại thường xuyên theo
thời gian. Hai câu thơ cuối đoạn lại đột ngột chuyển cảnh:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Núi cao rừng rậm lùi xa, chỉ
còn lại hương vị ấm áp nghĩa tình quân dân lan tỏa từ nồi cơm của các cô gái
Thái. Từ cảm thán "Nhớ ôi" đứng đầu câu thơ diễn tả nỗi nhớ da diết,
ám ảnh khôn khuây của Quang Dũng cũng như người lính Tây Tiến về đồng bào miền
Tây. Nhà thơ như nhói lòng khi hồi tưởng lại cảnh đoàn quân quây quần quanh nồi
xôi nếp thơm lừng đang bốc khói. Đó là những giây phút ấm áp ngắn ngủi nhưng
lại dịu ngọt, tinh tế nên khắc sâu mãi trong tâm trí nhà thơ. Cách kết hợp từ
"mùa em" rất độc đáo, gợi những liên tưởng đẹp, lãng mạn về những cô
gái Thái vừa khỏe khoắn vừa dịu dàng mà đằm thắm yêu thương. Hai câu thơ kết
thúc đoạn một bài thơ Tây Tiến có âm điệu nhẹ nhàng tha thiết gợi cảm giác êm
dịu, ấm áp, tạo tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn thơ tiếp theo.
Trong những đoạn thơ còn lại,
nhà thơ Quang Dũng tiếp tục hồi tưởng về cảnh những đêm liên hoan văn nghệ thắm
thiết tình quân dân, những buổi chiều trên sông nước miền Tây thơ mộng, hư ảo,
hồi tưởng về chân dung tập thể những người lính Tây Tiến anh dũng, hào hoa.
Cuối bài thơ, Quang Dũng bộc lộ lời nguyện thề mãi gắn bó với miền Tây và đoàn
quân Tây Tiến.
Đoạn thơ đầu bài thơ Tây Tiến
đã thể hiện tài hoa và tâm hồn lãng mạn phóng khoáng của nhà thơ Quang Dũng.
Đoạn thơ có ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu, gây ấn tượng táo bạo,
dựng lên bức tranh sinh động, có chiều sâu về cảnh hành quân của đoàn quân Tây
Tiến trên cái nền thiên nhiên rừng núi hùng vĩ thơ mộng miền Tây. Qua đó, ta
cảm nhận được sự gắn bó sâu sắc, nỗi nhớ tha thiết của nhà thơ Quang Dũng về
những ngày tháng chiến đấu trong đoàn quân Tây Tiến - một thời mãi mãi để nhớ
và tự hào.
Phân tích phần 1 Tây tiến của
Quang Dũng - Mẫu 2
Quang Dũng là nhà thơ lãng
mạn, tài hoa. Bài thơ Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho sáng tác của Quang
Dũng. Quang Dũng viết Tây Tiến vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven
con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ đồng đội thân
yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ kỉ niệm
đẹp một thời trận mạc... Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn
của tuổi trẻ Việt Nam, của “bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầu kháng chiến
chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang.
Tây Tiến là tên gọi của một
đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt - Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và
Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy, đã
từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.
Hai câu thơ đầu nói lên nỗi
nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không
thể nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng
gọi “Tây Tiến ơi” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ “ơi!” bắt
vần với từ láy “chơi vơi” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài,
từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian.
Hai chữ “xa xôi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ”
trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến
đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm
về một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.
Những câu thơ tiếp theo nói
về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm
trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai
Châu... được nhắc đến không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại
nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc... Nó gợi trí
tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước - Nghìn
năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi
rừng trùng điệp:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Bao núi cao, đèo cao, dốc
thẳng dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua.
Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập
ghềnh , dốc xuống thì “thăm thẳm” như dẫn đến vực sâu. Các từ “khúc khuỷu”,
“thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân
chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm - Heo hút cồn mây súng ngửi
trời!”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa
tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng
mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ
chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới "Khó khăn nào cũng vượt qua - Kẻ thù nào
cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người:
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên
cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu
đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa,
cảnh tượng núi rừng hùng vĩ được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí
của nhà thơ — chiến sĩ.
Có cảnh đoàn quân đi trong
mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ được dệt bằng những thanh bằng
liên tiếp, gợi tả sự êm dịu, tươi mát, của tâm hồn những người lính trẻ, trong
gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến
binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu
thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ
gìn.
Ta trở lại đoạn thơ trên,
gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có
tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
“Chiều chiều...” rồi “đêm
đêm” luôn có những tiếng gầm thét, những âm thanh ấy khẳng định cái bí mật, cái
uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang
Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí
khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người
đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn
tiến bước, người nối người, băng lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm
xuống và giá trị con người như được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang
Dũng cũng nói đến sự hi sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô
cùng gian khổ:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời...
Hiện thực chiến tranh xưa nay
vốn như thế! Sự hi sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để
xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hy sinh nhưng không chút bi lụy,
thảm thương.
Hai câu cuối đoạn thơ, cảm
xúc bồi hồi tha thiết, như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình, như tiếng hát
của một bài ca hoài niệm, vừa bâng khuâng, vừa tự hào:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
“Nhớ ôi!” là tình cảm dạt
dào, là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc”. Câu thơ
đậm đà tình quân dân. Hương vị bản Mường với “cơm lên khói”, với “mùa em thơm
nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn
ngữ thi ca, có hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở nên uyển chuyển,
mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em”
và tình quân dân, sau này Chế Lan Viên viết trong bài Tiếng hát con tàu.
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
...
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
“Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên
khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ
tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu.
Mười bốn câu thơ trên đây là
phần đầu bài Tây Tiến, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính
trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên
đó nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu
lửa với niềm kiêu hãnh “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh...”. Đoạn thơ để
lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là ở sự kết hợp
hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế hệ đã trôi qua,
bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng vẫn giữ được giá trị của mình.
Comments
Post a Comment